THÁNH CA

DÙNG TRONG HÀNH HƯƠNG ĐẠI PHÚC

của CỘNG ĐOÀN HÀNH HƯƠNG ÂU CHÂU

  1. Ngày nay con đến.(pdf)

  2. Linh hồn tôi tung hô Chúa.(pdf)

  3. Cuộc đời này con có gì mà dâng Chúa đâu.(pdf)

  4. Con vẫn trông cậy Chúa.(pdf)

  5. Hát lên bài ca.(pdf)

  6. Xin chỉ cho con.(pdf)

  7. Con đến dâng lễ vật.(pdf)

  8. Bao la tình Chúa yêu con.(pdf)

  9. Con tưởng rằng con vững tin.(pdf) Nghe

  10. Ta là Bánh Hằng Sống.(pdf)

  11. Chúa chăn nuôi tôi, Chúa chăn nuôi tôi.(pdf)

  12. Tựa trầm hương thơm bay.(pdf)

  13. Con nay thuộc về Ngài, từ nay con thuộc về Ngài.(pdf)  Nghe

  14. Tựa nép bên lòng Chúa.(pdf)

  15. Đời con Chúa ơi sao quá mọn hèn.(pdf)

  16. Như con thơ trong lòng mẹ hiền (pdf) Nghe

  17. Con dâng Chúa đôi tay này, từng vất vả.(pdf)

  18. Khúc cảm tạ từ đó âm vang vọng ngân.(pdf) Nghe

  19. Khi con nghe tiếng kêu mời.(pdf)

  20. Lạy Chúa con đường nào Chúa đã đi qua.(pdf)

  21. Nơi tôn nhan, con họp nhau đâ khấn xin.(pdf)

  22. Mẹ ơn bao người lạc bước lưu đầy.(pdf)

  23. Cung chúc trinh vương.(pdf)

  24. Mẹ ơi nay con đến dâng trước tôn nhan.(pdf)

  25. Lạy Mẹ là ngôi sao sáng.(pdf)

  26. Mẹ từ bi ngày nay con đến nép thân.(pdf)

  27. Ave Maria con dâng lời chào Mẹ.(pdf)

  28. Lạy Mẹ Fatima Mẹ nỉ non bao lần. (pdf)

  29. Con đến trước toà Nữ Vương uy quyền.(pdf)

  30. Mẹ rất nhân từ quốc gia Viêt Nam rất lầm than.(pdf)

  31. Sống gần Mẹ lòng con hoan lạc biết bao.(pdf)

  32. Fatima 13/5

  33. Xin Mẹ nghe tiếng con khẩn cầu.(pdf)

  34. Chúa ơi con còn hát mãi.(pdf) Nghe

  35. Chúa ơi cho con nhìn thấy.(pdf) Nghe

  36. Con hát bài tình ca.(pdf) Nghe

  37. Như dòng nến trôi trên bàn thờ (pdf) >>> nghe

  38. Lạy Nữ Vương Rất Thánh Mân Côi.(pdf)

  39. Một niềm phó thác.(pdf) Nghe

  40. Lạy Mẹ Lộ Đức pdf   Nghe   

  41. Chút Lòng Son pdf   Nghe 

  42. Dâng Lên Chúa Bánh Thơm pdf   Nghe

  43. Chúa chăn nuôi tôi  pdf Nghe

  44. Dâng dâng Chúa Trời pdf Nghe

  45. Con tin thưa Thầy pdf

  46. Lời kinh yêu thương dâng Cha pdf Nghe

  47. Linh hồn tôi pdf  Nghe

  48. Đời con như của lễ không hề ngưng pdf Nghe

BOOKLET & CHƯƠNG TRÌNH HÀNH HƯƠNG ĐẠI PHÚC FATIMA-LỘ ĐỨC 20-25/7/2015

 

ĐỨC MẸ FATIMA

 

 

Đức Mẹ Fatima là một trong số nhiều tước hiệu mà giáo hội dành cho Đức Trinh Nữ Maria. Tước hiệu này phát xuất từ việc Đức Mẹ hiện ra 6 lần với 3 em bé chăn cừu làng Fatima (Bồ Đào nha) là Lucia dos Santos, Francisco Marto và Jacinta Marto từ ngày 13.5 tới ngày 13.10.1917.

 

Tước hiệu Đức Bà Mân Côi cũng được dùng để chỉ Đức Trinh Vương Maria đã hiện ra này. Ba em bé kể rằng, bà đẹp đã đích thân xưng mình là "Đức Mẹ Mân Côi". Từ hai tước hiệu trên gộp lại thành: "Đức Mẹ Mân Côi Fatima"

 

Bối cảnh lịch sử

 

Năm 1917, Fatima là 1 giáo xứ nông thôn gồm khoảng 2.500 người cư ngụ rải rác trong khoảng 40 thôn xóm. Mọi người đều lao động trên các đồng ruộng. Các trẻ em cũng phải giúp đỡ cha mẹ những việc nhẹ như chăn dắt bò, dê, cừu vv...Phần lớn dân cư đều mù chữ, chỉ có khoảng 10% phụ nữ biết đọc, biết viết.

 

Các gia đình Dos Santos và Marto cư ngụ trong thôn Aljustrel. Gia đình Dos Santos có 1 bé gái là Lucia, sinh ngày 22.3.1907. Gia đình người em họ Marto có 1 con trai là Francisco Marto, sinh ngày 11.6.1908 và 1 con gái là Jacinta Marto, sinh 11.3.1910. Ba em bé này thường chăn dắt đàn cừu tại bãi cỏ ở triền đồi gọi là «Cova de iria», cách thôn chừng 2 km.

 

 

 

Trong năm 1915, Lúcia, Francisco và Jacinta đã gặp thiên thần hiện ra với chúng ở bãi này. Khi về nhà thuật lại với cha mẹ, chúng bị cha mẹ mắng, cho là đặt chuyện nói láo. Mùa xuân và mùa hè năm 1916, thiên thần lại hiện ra với các em và dạy các em cầu nguyện như sau:

 

« Lạy Chúa !

Con tin, con thờ lạy

Con trông cậy và con yêu mến Chúa.

Con xin Chúa tha thứ cho những ai không tin, không thờ lạy,không trông cậy,và không yêu mến Chúa. »

 

Đức Mẹ hiện ra lần đầu: 13/05/1917

 

Ngày 13.5.1917, vào lúc trưa, 1 bà mặc áo trắng toát hiện ra với 3 em bé chăn cừu, nói với các em là hãy lần chuỗi, đọc kinh Mân Côi hàng ngày để cầu nguyện cho thế giới chấm dứt chiến tranh, được hòa bình. Trước khi biến đi, Bà bảo 3 em hãy trở lại nơi đây đúng giờ trưa ngày 13 tháng sau.

 

Jacinta còn qúa nhỏ mới có hơn 6 tuổi nên quên giữ kín, về nhà thuật lại sự việc cho cha mẹ nghe. Tin này loan truyền nhanh khắp làng. Mọi người tỏ ra không tin. Vị linh mục chính xứ hỏi Lúcia, nhưng cũng không tin. Trong báo cáo gửi lên giám mục cai quản giáo phận Leiria, vị linh mục quản xứ viết: «cần phải xa lánh chuyện này».

 

Đức Mẹ hiện ra lần thứ hai: 13/06/1917

 

Ngày 13 tháng 6, đúng giờ trưa, 3 em lại tới nơi hẹn, theo sau có khoảng vài chục người tò mò đến xem sự thể ra sao. Mọi người lần chuỗi đọc kinh mân côi thì Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, và nhắc lại với Lúcia về tầm quan trọng của việc đọc kinh Mân Côi. Hãy câu nguyện dâng kính «trái tim vô nhiễm Maria», đồng thời Đức Mẹ cũng báo trước cái chết của 2 anh em Francisco và Jacinta: «Mẹ sẽ sớm đưa Francisco và Jacinta về trời, còn con, con sẽ ở lại thế gian một thời gian nữa. Chúa Giêsu muốn dùng con để loan truyền cho mọi người biết ta và yêu mến ta». Đức Mẹ cũng yêu cầu Lucia đi học chữ để dễ loan báo lời Đức Mẹ cho các người khác.

 

Các người đi theo không nhìn và nghe thấy gì. Họ chỉ nhìn thấy cành cây nhỏ (mà Đức Mẹ đứng) trĩu xuống dưới 1 sức nặng, rồi đột nhiên bật lên (khi Đức Mẹ biến đi)

 

Đức Mẹ hiện ra lần thứ ba: 13/07/1917

 

Ngày thứ Sáu 13.7.1917, «bà mặc áo trắng» lại hiện ra với 3 em - có khoảng 4.000 người theo sau. Đức Mẹ vẫn nhắc Lucia việc đọc kinh Mân Côi mọi ngày, để chiến tranh chóng chấm dứt. Lần này Đức Mẹ tiết lộ cho 3 em "bí mật" gọi là "bí mật Fatima". (Năm 1942, 2 bí mật đầu đã được công bố, còn bí mật thứ 3 thì mãi tới năm 2000, Giáo Hội mới công bố).

 

Đức Mẹ hiện ra lần thứ tư 10/08/1917

 

Ngày 10.8.1917, viên chánh tổng - 1 người chống đối hàng giáo sĩ - đòi 3 em Lucia, Francisco và Jacinta tới để tra hỏi, nhưng không có kết quả, nên ông rất bực bội.

 

Ngày 13.8, có khoảng 18.000 người tới nơi Đức Mẹ hiện ra chờ xem sự lạ. Ông ta nhốt 3 em vì làm rối loạn trật tự công cộng và tiếp tục tra hỏi, nhưng vẫn hoài công. Rốt cuộc cho đến ngày 15.8, ông ta phải thả 3 em ra.

 

Chúa nhật 19.8, khi 3 em dẫn đàn cừu tới thả ở bãi Cova de Iria, Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em, tại làng Valinhos, yêu cầu các em nói với mọi người cầu nguyện cho các người tội lỗi mau thống hối và hứa sẽ làm 1 phép lạ cho mọi người tin.

 

 

Đức Mẹ hiện ra lần thứ năm: 13/09/1917

 

Ngày 13.9, có khoảng 30.000 người tụ họp tại bãi Cova de Iria, cầu nguyện cùng với 3 em. Đức Mẹ lại hiện ra với 3 em và cho biết tháng sau, sẽ có Chúa, Đức Mẹ núi Carmêlô, thánh Giuse và Chúa Hài đồng Giêsu sẽ cùng tới.

 

Đức Mẹ hiện ra lần thứ sáu: 13/10/1917

 

Ngày 13.10.1917, mưa như trút nước trên bãi cỏ Cova da Iria. Một đám đông khoảng 70.000 người - kể cả nhiều phóng viên chụp hình và các ký giả tụ tập tại đây lần chuỗi, đọc kinh cầu nguyện. Lúc giữa trưa, Đức Mẹ hiện ra với 3 em và yêu cầu cho xây 1 nguyện đường tại đây để vinh danh Đức Trinh Vương Maria. Đức Mẹ cũng loan báo thế chiến thứ nhất sẽ sớm chấm dứt và yêu cầu những kẻ có tội hãy mau sám hối.

 

Khi Đức Mẹ biến về trời thì mưa ngưng rơi, mặt trời xuất hiện trên bầu trời xanh biếc. Đám đông đã có thể nhìn thẳng vào mặt trời và thấy mặt trời nhảy múa, tung ra các chùm tia sáng nhiều màu. Mặt trời từ trên cao lao xuống thấp gần trái đất, khiến đám đông sợ hãi la lên và qùy xuống cầu nguyện. Việc lạ xẩy ra trong khoảng 10 phút, sau đó mọi sự trở lại bình thường. Những người lúc trước quần áo dầm mưa ướt đẫm sau khi mặt trời sa xuống đều khô ráo cả. Hiện tượng này được hầu hết đám đông chứng kiến, và một số người ở cách đó mấy dặm cũng nhìn thấy.

 

(Trong thời gian này, các nhà khoa học trên thế giới không hề ghi nhận 1 hiện tượng khác thường nào của mặt trời).

 

Trong khi đó, riêng 3 em nhìn thấy Thánh Gia, rồi Đức Mẹ Sầu Bị, Chúa Hài Đồng Giêsu và sau chót là Đức Mẹ núi Carmêlô lần lượt xuất hiện như đã hứa trước với 3 em.

 

Số phận 3 em chăn cừu

 

 

Francisco và Jacinta qua đời sớm trong đợt dịch cúm Tây Ban Nha Francisco mất năm 1919, một năm sau Jacinta mất năm 1920. Cả 2 em đã được ĐGH. Gioan Phaolô II nâng lên hàng đáng tôn kính (venerable) ngày 13.5.1989 và được phong chân phước ngày 13.5.2000. Mộ của 2 em hiện nằm trong lòng Vương cung thánh đường Fatima.

 

Còn Lucia ngày 24.10.1925 vào tu viện dòng Dorothea ở Pontevedra (Galicia, ở Tây Ban Nha). Năm 1928 khấn lần đầu ở Tuy (Tây ban nha).

 

Năm 1925 và 1929, Lucia lại được Đức Mẹ hiện ra với mình. Tháng 10.1934, Lucia vĩnh khấn và lấy tên thánh Đức Mẹ Maria Sầu Bi.

 

Sau nhiều năm điều tra, Đức Giám Mục da Silva, giáo phận Leiria, trong thư mục vụ ngày 13.10.1930 đã công nhận sự kiện Đức Mẹ hiện ra với 3 em nói trên ở Fatima và chính thức cho phép việc tôn sùng Đức Mẹ Fatima.

 

Lucia được lẽnh đã viết các hồi ký về sự kiện trên gồm 4 bản (versions):

 

Từ năm 1948, Lúcia vào tu trong đan viện dòng kín Carmêlô ở Coimbra (Bồ Đào Nha), dưới tên nữ tu Lucia Trái Tim Vô nhiễm nguyên tội.

 

Lucia từ trần ngày 14.2.2005 ở tuổi 97.

  

Thanh Sơn tìm hiều và tóm lược.

 

 

Đức Mẹ Hiện Ra Tại Lộ Đức (Lourdes) 1858

Lễ Kính ngày 11 tháng 2

 

 

Lộ đức là một thành phố nhỏ thuộc miền tây nam nước Pháp. Lộ đức ngày nay được nhiều người trên thế giới biết đến là nhờ cuộc hiện ra của Đức Mẹ Chúa Trời với một em nhỏ cách đây 150 năm.

 

1. Sự tích hiện ra: Hôm đó là ngày 11 tháng 2 năm 1858,  trời mùa Đông ở miền núi, lạnh kinh khủng. Bernadette Soubirous cùng với 2 bạn  khác ra phía rừng cạnh bờ sông Gave để nhặt củi.  Bernadette lúc đó 15 tuổi mà chưa biết đọc biết viết, vì nhà nghèo, em phải làm việc để phụ vào với gia đình.

 

Sau khi vào tu Dòng, Benadette được học và cô tả lại như sau trong lá thư trình bề trên như sau: "Hôm ấy tôi đi kiếm củi với 2 đứa bạn ở bờ sông Gave. (Khi 2 ra tới bờ sông, em kia đi xa hơn, còn Benađette tìm củi quanh hang Massabiel. Bất ngờ) tôi nghe có tiếng động. Tôi ngoái nhìn về phía đồng cỏ. Không thấy cây cối rung động gì cả. Tôi ngẩng đầu nhìn lên hang. Tôi thấy một Bà mặc áo trắng (bà còn trẻ lắm, chừng 16, 17 tuổi, mặc áo dài trắng, thắt dây lưng xanh da trời, hai tay chắp lại, đeo tràng hạt trên cánh tay phải.  Bà đẹp vời Benadette tiến lại gần hơn và mỉm cười với em). Áo bà trắng nhưng thắt lưng lại xanh, và mỗi bên bàn chân có một bông hồng vàng. Mầu chuỗi hạt của Bà cũng vàng nữa.

 

Khi thấy như vậy, tôi vội chùi mắt vì tưởng mình lầm. Rồi thọc tay vào áo, tôi thấy có chuỗi hạt. Tôi muốn giơ tay làm dấu thánh giá, nhưng không đưa nổi tay lên trán. Tay tôi rớt xuống. Còn hình Bà kia thì lại làm dấu thánh giá. Tay tôi run quá. Tôi thử làm dấu lại và làm được. Tôi bắt đầu lần chuỗi. Hình kia cũng lần chuỗi của Bà, nhưng không hề máy môi. Tôi lần chuỗi xong thì hình kia cũng biến mất tức thì.

 

(Khi gặp lại hai đứa bạn kia )"Tôi hỏi hai đứa không thấy gì sao? Chúng bảo không. Và chúng hỏi tôi thấy gì vậy, và buộc tôi phải nói cho chúng nghe. Tôi kể rằng tôi đã thấy một Bà mặc áo trắng, nhưng tôi không biết Bà đó là gì, và không cho chúng được kể lại với ai. Chúng bảo tôi không nên trở lại đó nữa. Tôi bảo không. Đến ngày Chúa nhật, tôi trở lại đó lần thứ hai vì cảm thấy bị thúc đẩy ở trong lòng.

 

Đến lần thứ ba, Bà kia mới nói với tôi. Bà hỏi tôi có bằng lòng trở lại đây trong 15 ngày liên tiếp không. Tôi bằng lòng. Bà bảo tôi phải về nói với các linh mục xây một nhà thờ tại chỗ này. Rồi Bà bảo tôi phải đi uống nước ở suối. Tôi không thấy có suối nào cả, nên tôi ra đi uống nước ở sông Gave. Bà bảo tôi không phải ở đó, và Bà lấy ngón tay chỉ cho tôi chỗ suối nước. Tôi đến, nhưng chỉ thấy một chút nước dơ. Tôi thò tay xuống nhưng không múc được. Tôi liền cào đất ra, và tôi đã múc được nước, nhưng tôi lại hất đi ba lần, đến lần thứ bốn tôi mới dám uống. Thế rồi hình kia biến đi và tôi cũng ra về.

 

Trong 15 ngày liên tiếp, tôi đã trở lại nơi đó. Ngày nào tôi cũng thấy hình kia hiện ra, trừ ngày thứ Hai và thứ Sáu. Bà nói đi nói lại với tôi rằng:" Tôi phải thưa các linh mục xây cho Bà một đền thờ tại đây. Tôi phải đến rửa ở suối nước, và tôi phải cầu nguyện cho tội nhân trở lại.

 

Nhiều lần tôi đã hỏi Bà là ai? Nhưng Bà chỉ cười. Rồi bỏ tay thõng xuống, Bà ngước mắt lên trời và bảo tôi Bà là Đấng đầu thai Vô nhiễm.

 

Trong khoảng thời gian 15 ngày đó, Bà nói với tôi 3 điều bí mật, nhưng bắt tôi giữ kín, không được nói với ai, và cho đến nay tôi vẫn trung thành giữ như vậy".

 

2. Sứ điệp Đức Mẹ muốn nhắn nhủ con cái Người qua Benađette là:

 

"Hãy cầu nguyện cho kẻ có tội"

 

"Hãy nói với các linh mục xây nhà thờ kính Mẹ ở đây, và để dân chúng đến đây rước kiệu"         

 

3. Ta là Đấng Vô nhiễm: Khi linh mục xứ muốn biết tên Bà, Bênađêta đã hỏi thì ngày 25 tháng 3 năm 1858, Đức Mẹ xưng mình là: "Ta là Đấng Vô nhiễm Nguyên tội". Nhưng Bênađêta không hiểu. Khi cô nói lại với cha xứ ngài mới nhận ra bà lạ đó là Đức Mẹ hiện ra.

 

Để chứng tỏ Mẹ hiện ra thật,  Mẹ bảo Bênađêta bới đất chỗ cô qùy để có một giòng nước vọt ra cho cô uống và sau đó chữa mọi thứ bệnh.

 

Sau này, đức giám mục giáo phận đã gửi Bênađêta đi tu tại Nevers cách xa Lộ đức cả nửa ngày đường xe. Bênađêta sống rất khiêm tốn ở đây. Cô bị nhiều xỉ nhục nơi các chị em dòng, bị nhiều bệnh đau đớn cho tới chết, nhưng lúc nào Tràng hạt Mân côi cũng là niềm an ủi  của cô. Chính kinh Mân côi đã là đường lối nên thánh của cô.(Riêng Bênađêta Đức Mẹ đã nói: " Mẹ không hứa cho con hạnh phúc đời này, nhưng là hạnh phúc đời sau.)

 

4. Lộ đức ngày nay đã trở nên một trung tâm hành hương lớn nhất thế giới. Hàng năm có tới 4 triệu người đến kính viếng và xin ơn Đức Mẹ.

 

Giáo hội đã đặt lễ kính Đức Mẹ hiện ra tại Lộ đức vào ngày 11 tháng 2 hàng năm. Từ năm 1992, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô 2 đã chỉ định ngày lề Đức Mẹ Lộ đức là ngày Thế giới cầu cho các bệnh nhân.

 

(Theo tài liệu của Lm. Hồng Phúc, Mẹ Maria trang 189-208 và Dictionary of Mary p. 178)

 

CUỘC ĐỜI THÁNH BERNADETTE 

Cha của Bernadete là ông Francis Soubirou và mẹ là bà Louis Catero, sinh sống tại Lourde. Ông bà cho chào đời một ái nữ đầu lòng (1844), đặt tên là Bernadete. Em bị bệnh suyễn ngay từ nhỏ, nên thân thể phát triển rất chậm. Bernadete rất tự nhiên, vui vẻ và cương quyết. Hay giận, nhưng cũng rất mau nguôi. Vì bệnh và trí khôn chậm, nên em không đi học được. Nhưng về việc đạo thì Bernadete rất sốt sáng, nhiệt thành và đạo đức. Giữa lúc em đang dọn mình Chịu Lễ lần đầu, thì ngày 11 tháng 2 năm 1858, Đức Mẹ đã hiện ra với em. Từ đó cho đến ngày 16 tháng 7 năm 1858 (trong vòng 5 tháng), Đức Mẹ đã hiện ra với em 18 lần, và cũng từ đó, Lộ Đức là nơi xảy ra rất nhiều phép lạ. Sau các lần Đức Mẹ hiện ra, Bernadete cảm thấy mình có sứ mệnh đền tạ thay cho kẻ tội lỗi, và từ đó em có ý tưởng đi tu. Bernadette đã vào dòng thánh Gildard ngày mùng 3 tháng 7 năm 1866. Sau những năm tập luyện Bernadette được mặc áo dòng và đổi tên là Maria Bernard. Trong nhiều năm sống nơi tu viện, Chúa cất những niềm vui thiêng liêng mà trước đây Chúa dành cho chị, lại để chị đi vào con đường đen tối, gặp nhiều đau khổ thử thách, chê bai, nhạo cười, để Bernard thêm thánh thiện. Năm 1867 Chúa để chị Bernard bị phong thấp nơi chân, nhưng chị vẫn khuất phục cơn bệnh để tiếp tục phục vụ đồng loại trong nghề Y Tá. Từ tháng 10 năm 1875, sức chị yếu dần, không làm gì được nữa chị mới chịu nghỉ việc và chị nhận "Chức vụ chính của tôi là đau ốm". Mùa hè năm 1877, chân chị phát chứng làm độc, rồi từ đó các thương tích khác lại nổi lên khắp chân tay mình mẩy, cho tới khi chỉ hấp hối giữa tuần Phục sinh năm 1879, vừa lúc được 35 tuổi.

54 năm sau khi qua đời, tức là ngày 8 tháng 12 năm 1933, chị được Đức Giáo Hoàng Piô 11 tôn phong lên bậc hiển thánh.

Bernadette qua đời vào khi được 35 tuổi. Thi hài Ngài đã được khai quật 3 lần trong vòng 46 năm như là việc làm trong tiến trình phong Thánh. Lạ lùng thay, thân thể Ngài không hề hư hoại, mặc dù chuỗi tràng hạt của Ngài rỉ sét và y phục của Ngài đã bị ẩm mốc. Trước sự ngạc nhiên của các bác sĩ khai quật Ngài lần đầu tiên, tất cả các cơ quan nội tạng của Ngài vẫn nguyên vẹn (và đến nay vẫn vậy). Kể cả răng, móng tay móng chân và thậm chí bộ gan, lẽ ra phải là cơ quan đầu tiên bị phân hủy. Đây là Bernadette, người đã được Đấng Vô nhiễm Nguyên Tội, tức Đức Trinh Nữ Maria, đã hiện ra tại một cái hang bên một dòng suối tại Lộ Đức.

Ngoài ra, mặc dù Ngài đã qua đời nhiều năm, máu vẫn lưu thông trong thân thể Ngài. Điều này vượt hẳn tự nhiên, và tất cả những gì vượt quá tự nhiên đều là công việc của Thiên Chúa. Cuối cùng Hội Thánh đã quyết định đặt Ngài vào một cái hòm bằng kính tại Lộ Đức để tất cả những ai đi đến đó có thể tôn kính. Hôm nay, Thánh Bernadette hẳn đã được 165 tuổi rồi !!

Để các bạn có thể có một ý niệm về Ngài hiện nay, và ngạc nhiên về dáng vẻ bề ngoài của Ngài, đây là 3 bức ảnh chụp Thánh nữ :

 

 

Boly Mill là nhà thứ nhất của Bernadette.

 

Cachot là nhà tù cũ bỏ hoang năm 1824 vì dơ bẩn không ai ở

 

Hình chụp ngày 6/6/1997 (sau khi Thánh nữ qua đời được 118 năm). Chuỗi tràng hạt trên tay Thánh nữ đã bị rỉ sét trong lần khai quật ngày 20/8/1909.

Nhưng xác Thánh Nữ vẫn tươi tốt như người sống.

 

 

Hiện nay, thi hài Thánh nữ được đặt trong hòm kiếng tại Lộ Đức đễ khách hành hương kính viếng. Hình chụp ngày 6/6/1997.

 

 

Vài sự kiện về cuộc đời thôn nữ Bernadette

do Đức Long thuật lại như sau: “VietCatholic News (Thứ tư 26 / 03 / 2008)”.

 

        “Bernadette sinh ngày 7 tháng 01 năm 1844 trong căn nhà kinh doanh máy xay bột ông Boly, đến tháng 02 năm 1856, gia đình dọn về ở căn phòng “Cachot ”, Cachot là phòng giam nhà tù xưa. Từ ngày 11 tháng 02 đến 16 tháng 06 năm 1858, Đức Mẹ đã hiện ra 18 lần với Bernadette. Ngày 18 tháng 01 năm 1862, Đức Cha Laurence, giám mục giáo phận Tarbes công nhận sự thật Đức Mẹ hiện ra. Ngày 04 tháng 07 năm 1866, Bernadette xin vào Dòng thánh Gilard, dòng nữ tu Bác Ái ở Nevers. Ngày 30 tháng 10 năm 1867, Bernadette tuyên khấn và lấy tên là chị Marie-Bernard. Tháng 09 năm 1874, Bernadette ngã chứng bệnh hen kinh niên, và mất ngày 16 tháng 04 năm 1879. Ngày 08 tháng 12 năm 1933 được Đức Thánh Cha Piô XI phong thánh.

        Gia đình Bernadette rất nghèo. Cha là chủ tiệm một máy xay, bị phá sản, gia đình sống dựa vào những công việc nhỏ nhặt. Họ ở trong căn nhà tù cũ được cải dụng bởi vì nhà tù này trước đây tối tăm và hại cho sức khỏe. Họ có bốn người con, đêm ngủ chung một giường. 14 tuổi mà Bernadette chẳng hề biết đọc, chỉ biết nói tiếng thổ ngữ (bigourdan).

       Lúc xưng tội với cha Pomain, cha phó xứ, Bernadette thú nhận với Ngài rằng: “có một người nữ”. Anne Bernet, người viết tiểu sử thánh nhân Bernadette, nhận xét: “mọi người luôn có những lời lẽ thiếu tế nhị và nhã nhặn với Bernadette”(1). Khi sự kiện được tiết lộ, hàng trăm người dẫn Bernadette đến núi đá Massabielle và hỏi “Bà là ai ?”. Ngày 25 tháng ba, người nữ trả lời: “Que soy era Immaculada Conception” (Ta là Đấng vô nhiễm nguyên tội). Bốn năm trước đó, Đức Giáo Hoàng Piô IX đã công bố tín điều vô nhiễm nguyên tội, nhưng tín điều này chưa được thông dụng đối với tín hữu công giáo lúc bấy giờ, Bernadette cũng không hiểu ý nghĩa tín điều đó. Vì bệnh hen kinh niên, Bernadette được ở nội trú tại nhà dưỡng lão Lỗ Đức, sau đó vào Dòng nữ tu Bác Ái ở Nervers, chị mất tại đây năm 1879, ở tuổi 35 tuổi, Bernadette được phong hiển thánh năm 1925 và phong thánh năm 1933. Người Nữ xinh đẹp và Bernadette trong những lần hiện ra:

 

Từ ngày 11 tháng 02 đến ngày 16 tháng 06 năm 1858, Đức Trinh Nữ hiện ra với Bernadette 18 lần.

 

Những lần hiện ra không ai thấy Người ngoài Bernadette. Lần hiện ra sau cùng, ngày 16 tháng 06, Bernadette không đến hang núi đá, vì bị cấm vào hang, cô sang bên kia bờ sông Gave (đối diện hang núi đá). “Chưa bao giờ tôi thấy Người đẹp đến thế”, Bernadette cho biết.

        Cảnh tượng diễn ra dưới triều đại vua nước Pháp Napoléon III, tại Lỗ Đức, thị trấn miền Pyréné. Ngày 11 tháng hai năm 1858, Bernadette Soubious, lúc đó còn là một thiếu nữ rất trẻ, đi nhặt củi cùng với em gái và một cô bạn, bên bờ sông Gave, ở chân núi đá Massabielle có một cái hang, phía trên có một lỗ (tiếng Pháp: anfractuosité), theo giải thích: lỗ là nơi, chỉ địa điểm hiện ra, Đức chỉ danh nhân, là tên Đức Mẹ. Hai từ này ghép lại thành địa danh “Lỗ Đức”. Từ nơi tăm tối ẩm ướt này, một tia sáng khác thường phát ra thu hút sự chú ý Bernadette, và cô thấy một “người nữ trẻ xinh đẹp” hiện ra.

        1. Lần hiện ra thứ nhất, thứ 5 ngày 11 tháng 02, Bernadette kể lại rằng: “Người Nữ ấy mặc áo trắng dài, đầu đội khăn trùm trắng, lưng thắt đai xanh dương và trên đôi chân có bông hồng màu vàng.” Hai cô bé kia thì không thấy gì. Bernadette làm dấu thánh giá và lần hạt với Đấng hiện ra. Sau khi đọc kinh, Người biến mất.

        2. Lần thứ hai, chủ nhật ngày 14 tháng 02. Bernadette cảm nhận được sức mạnh nội tâm thôi thúc cô đến hang đá, dù cha mẹ cấm đoán. Năn nỉ mãi cha mẹ cho phép đến hang đá. Sau khi đọc xong một chục hạt, Bernadette thấy Người xuất hiện, Bernadette rảy nước thánh và đọc kinh lần hạt với Người. Người Nữ cười và bái đầu. Khi đọc kinh xong, Người Nữ lại đi mất.

3. Lần thứ ba, thứ 5 ngày 18 tháng 02. Bernadette đọc kinh lần hạt với Người và hỏi tên Người: “Chị có thể cho biết tên?”. Người Nữ trả lời: “Không cần thiết đâu”, Người nói với Bernadette “Con muốn làm vinh danh Ta tại chốn này trong 15 ngày? Ta không hứa làm cho con hạnh phúc ở thế gian này, nhưng thế gian khác”.

        4. Lần hiện ra thứ tư, thứ 6 ngày 19 tháng 02.Bernadette đọc kinh lần chuỗi với Người, nến thắp sáng trong tay. Phong tục thắp nến dâng Đức Mẹ có từ đây.

        5. Lần thứ 5, ngày 20 tháng 02, Đức Trinh Nữ dạy Bernadette đọc kinh riêng. Sau đó Người biến mất, khiến Bernadette mang nỗi buồn man mác.

        6. Lần thứ 6, ngày 21 tháng 02. Người Nữ hiện ra với Bernadette từ sáng sớm. Sau đó, cha Pène và viên cảnh sát Jacomet chất vấn Bernadette. Viên cảnh sát bắt Bernadette kể lại điều cô đã thấy. Cô bé nói với ông ta bằng tiếng thổ ngữ “Aquero” nghĩa là điều lạ “Bernadette lần chuỗi với Người Nữ.”

        7. Lần thứ 7 vào ngày 23 tháng 02, Bernadette đang đọc kinh, thì Người hiện ra.

        8. Lần thứ 8, thứ tư, 22 tháng 02, Người Nữ ban sứ điệp sám hối: “Hãy sám hối! Ăn năn ! Hãy đền tội! Hãy cầu cùng Chúa cho kẻ có tội. Hãy hôn lên đất để kẻ tội lỗi biết sám hối.

        9. Lần hiện ra thứ 9, vào thứ 5 ngày 25 tháng 02. Đám đông nói với Bernadette: “Cô có biết rằng nói ra những điều vậy người ta cho rằng cô điên?”. Bernadette trả lời: “Người Nữ bảo tôi uống nước suối... Tôi chỉ tìm được ít nước bùn, Người bảo tôi ăn cỏ gần nguồn nước, thế rồi Người biến mất và tôi đi luôn”. Người Nữ khuyên: ”Con hãy uống nước và tắm nước suối này. Hãy ăn cỏ nơi đây”.

        10. Lần thứ 10 & 11 vào thứ bảy và chủ nhật 27 tháng 02. Bernadette uống nước suối và làm cử chỉ sám hối. Ngày 28, hơn 1000 người tham dự cuộc nhập định “extase”, Bernadette cầu nguyện, hôn lên đất và bò bằng đầu gối. Sau đó Bernadette bị đưa về nhà ông thẩm phán Ribes, bị dọa bỏ tù.

        12. Lần thứ 12 vào thứ hai, ngày 01 tháng 02, hơn 1500 người trong đó có một linh mục bao quanh Bernadette tại hang đá Lỗ Đức. Ban đêm, một cô bạn sở tại, tên Cathrine Latapie, đến hang đá nhúng tay vào suối nước, tay của cô liền cử động được.

      13. Lần thứ 13 vào thứ 3, ngày 02 tháng 03. Người Nữ giao cho Bernadette đem sứ điệp cho các linh mục. Người nói: “Hãy đi nói với các cha đến đây rước kiệu và xây dựng tại đây một ngôi nhà nguyện”. Bernadette nói điều đó với cha Peyramale, quản xứ Lỗ Đức. Cha Peyramale chỉ muốn biết một điều: “Nếu Người thực sự muốn một nhà nguyện, thì mong cho biết tên Người và cho hoa hồng nở ở hang đá”. Sau đó, có minh chứng cho thấy, vào giữa đông mà hoa hồng ở hang đá vẫn nở.

        14. Lần thứ 14, vào thứ 3 ngày 03 tháng 03. Từ 7 giờ sáng, đã có mặt hơn 3000 người. Bernadette đến Lỗ Đức nhưng không thấy hiện ra. Sau khi tan trường, cô nhận thấy trong thâm tâm có tiếng gọi của Người Nữ, liền tới hang đá và hỏi tên Người Nữ, Người Nữ trả lời bằng một nụ cười.

        15. Lần thứ 15, vào thứ 5, ngày 04 tháng 03. Đám đông khoảng 8000 người chờ đợi phép lạ, hết 1 chục hạt vẫn thấy im lặng. Vị cha xứ Peyramale cắm trại tại chỗ, trong 20 ngày, Bernadette không đến hang đá.

        16. Lần thứ 16 vào thứ 5 ngày 25 tháng 03. Tên của Người được biểu lộ, nhưng hoa hồng trên chân Người Nữ không nở như những lần hiện ra trước. Người ngước mắt lên trời cầu nguyện, đôi tay giăng hướng xuống đất và nói: “Ta là Đấng Vô Nhiễm”. Bernadette thấy vậy, liền chạy đi nói lại với mọi người điều cô thấy mà không thể hiểu. Những lời tường thuật của Bernadette làm cho vị cha xứ Peyramale vốn dũng cảm cũng phải bối rối.

        17. Lần thứ 17, vào thứ tư ngày 07 tháng 04. Bernadette cầm nến sáng trong tay. Lửa cháy trên bàn tay mà không bị bỏng. Sự kiện ngay lập tức được bác sỹ Bouzous ghi nhận.

        18. Lần cuối cùng vào thứ 6 ngày 16 tháng 06, Bernadette cảm nhận được tiếng gọi huyền bí ở Lỗ Đức, nhưng vì cấm vào hang đá, nên cô sang phía bên kia bờ sông, đi trên đồng cỏ Ribère, đối diện với sông Gave, thấy Đức Trinh Nữ “xinh đẹp hơn bao giờ hết”. 

 

        Ngay từ đầu, theo chân thánh nữ Bernadette, các người bệnh tật vội vàng về Lỗ Đức, họ cho biết được lành bệnh. Giáo Hội tỏ ra thận trọng vấn đề này: trong 150 năm qua, Giáo Hội chỉ mới công nhận 67 phép lạ, mặc dù phòng y tế trong tâm Lỗ Đức ghi nhận đă có 2000 trường hợp lành bệnh không thể giải thích được. (1) (“Anne Bernet, Bernadette, Tempus”, p. 384) (Nguồn: Asomption & oeuvres và báo Figaro)                                                                                     

Đức Long

 

 

Những việc làm khi ở Lộ Đức

 

Uống nước

 

Tắm nước Lộ Đức như Đức Mẹ nói với Thánh Bernadette.

 

Viếng Đàng Thánh Giá