Vương Quốc Anh và Bắc Ái Nhĩ lan là tên chính thức của Nước Anh. Địa dư chính trị của quốc gia này bao gồm England, Wales, Scotland và BắC Ái Nhĩ Lan. Giáo Hội Công Giáo  nước này chia thành  3  Hội Đồng Giám Mục: Hội Đồng giám mục England and Wales, Hội Đồng Giám Mục Scotland và Hội Đồng Giám Mục Tòan Ái Nhĩ Lan. Xin mời xem chi tiết bài dưới  (lavang.org.uk)

Một Quốc Gia Với Ba Hội Ðồng Giám Mục  

Lm John Nguyễn Minh Hòan

Chuyện khó tin nhưng có thật 'chăm phần chăm' ở quần đảo Anh Cát Lợi. Diện tích không lớn, dân không đông, nhưng những gì tưởng chừng như không có thể xảy ra trên thế giới thì lại có thể xảy ra ở xứ của Nữ Hoàng Anh Quốc ! 

Tưởng cũng nên nhắc lại đôi dòng lịch sử. Ngay từ thời rất xa xưa, quần đảo Anh Cát Lợi đã là chiếc nôi của nhiều vương quốc khác nhau. Có thời chỉ nguyên vùng phía nam của Anh Quốc hiện nay đã có đến bảy vị quốc vương hùng cứ, mỗi vị một vùng, đàng hoàng oai phong lẫm liệt. Tuy nhiên, nhưng đợt ngoại xâm liên tiếp đã làm tiêu tan các vương quốc bé nhỏ này, và vào khoảng từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIV thì hình thành ba quốc gia riêng biệt: Anh Quốc, Tô Cách Lan, và Ái Nhĩ Lan. Ðiều này không những về mặt chính trị, mà còn cả dân tộc nữa. Người Anh đại đa số thuộc gốc Anglo Saxon; người Tô Cách Lan một số thuộc gốc Picts và một số thuộc gốc Gaels như Ái Nhĩ Lan. Do đó các Hội Ðồng Giám Mục Công Giáo thiết lập sau này vẫn giữ nguyên tính chất lịch sử của các dân tộc, dù thể chế chính trị áp đặt vào năm 1800, đặc biệt từ năm 1920 đến nay, coi Anh Quốc, Tô Cách Lan, và Bắc Ái Nhĩ Lan là một quốc gia. Tất nhiên, thể chế gượng ép này hiện nay đang dần dần bị thay đổi theo trào lưu đòi độc lập tự do của các dân tộc. 

Về mặt địa lý và chính trị, Anh Quốc không những được hưởng vùng phía nam trù phú, mà còn có cả lãnh địa Wales, nên trở thành một vương quốc hùng mạnh nhất trong vùng. Các triều đại vua chúa Anh thay nhau lên ngôi và không ngừng mở rộng ảnh hưởng của mình ra các quốc gia lân bang qua các cuộc chiến tranh, hôn nhân, mua bán lãnh thổ, v.v... Do đó đã có thời vua Anh thì cũng bảo hộ luôn cả Tô Cách Lan và Ái Nhĩ Lan, hay đôi khi ngược lại. Tuy nhiên, người đã làm thay đổi cục diện quần đảo Anh Cát Lợi nhiều nhất có thể nói là vua Henry VIII của Anh Quốc. Năm 1534, sau khi ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo, ông đã quyết tâm thống nhất toàn bộ quần đảo Anh Cát Lợi về mặt tôn giáo. Những đoàn quân hung hăng của ông đã tiến lên chiếm Tô Cách Lan, rồi tràn qua đảo Ái Nhĩ Lan để áp đặt một thứ tôn giáo mới lên toàn bộ quần đảo Anh Cát Lợi. Rất nhiều tín hữu trung thành với Giáo Hội Công Giáo tông truyền đã bị bách hại, trong số đó có những vị nổi tiếng như Thomas More và John Fisher của Anh Quốc. Thực ra vua Henry VIII không có tham vọng cải cách tôn giáo, mà chỉ muốn sắc dục và quyền hành. Tuy nhiên, cuộc ly khai của ông đã là cơ hội ngàn vàng cho những người Thệ Phản thời bấy giờ. Các giáo phái cải cách sau đó được thành lập ở Anh Quốc, Tô Cách Lan, và Ái Nhĩ Lan. Tất nhiên, các giáo phái mới thành lập này chẳng ai chịu ai, thay phiên nhau hết cải lại cách, đánh giết nhau tơi bời, và dùng các nhà thờ làm chuồng ngựa cho các cuộc chiến tranh tôn giáo. Cuộc hỗn chiến này xảy ra suốt mấy trăm năm, nặng nhẹ tùy mức độ mỗi nơi và tùy thời gian. 

Rất may mắn là nhờ cuộc đấu đá nội bộ của các giáo phái ly khai nên những người trung thành với Ðấng kế vị thánh Phêrô có cơ hội minh chứng Ðức Tin tông truyền, và Giáo Hội Công Giáo hầm trú vẫn tiếp tục tồn tại trên quần đảo Anh Cát Lợi. 

Tại Ái Nhĩ Lan, số giáo hữu Công Giáo đã phải rút về các vùng quê xa xôi hẻo lánh để giữ đạo, và do hoàn cảnh địa lý xa cách nên trung ương của Anh Giáo cũng có phần lơ là kiểm soát. Nhờ thế, Giáo Hội Công Giáo tại Ái Nhĩ Lan lúc nào cũng chiếm đa số dân, và tất nhiên là mạnh hơn giáo hội quốc doanh của Nhà Nước. Có lẽ vì vậy mà sau gần 350 năm 'truyền giáo' với sự tiếp sức bơm hơi từ Anh Quốc, tổng số tín đồ của giáo hội quốc doanh cũng không bằng con số lẻ của Giáo Hội Công Giáo, khiến William Gladstone, Thủ Tướng của Anh Quốc, đã phải giải thể giáo hội quốc doanh này vào năm 1871. Tuy nhiên, trong những giai đoạn khó khăn cho đến lúc chính thức được tha đạo vào năm 1829, nhiều giáo dân, linh mục, tu sĩ nam nữ và giám mục của Giáo Hội Công Giáo Ái Nhĩ Lan đã được diễm phúc dùng chính mạng sống mình để bảo vệ Ðức Tin. Do đó có thể nói trên quần đảo Anh Cát Lợi thì Ái Nhĩ Lan là quốc gia có tỷ số người Công Giáo cao nhất (95%). Trong hoàn cảnh hiện nay đất nước bị chia cắt với phần Bắc Ái Nhĩ Lan thuộc về Anh Quốc, và phía nam là nước Cộng Hòa Ái Nhĩ Lan, những người Công Giáo sống ở Bắc Ái Nhĩ Lan, tuy về mặt chính trị là công dân Anh thuộc quyền Nữ Hoàng, nhưng thực tế thì vẫn thuộc về một Hội đồng Giám Mục Ái Nhĩ Lan duy nhất. 

Tại Anh Quốc, do hoàn cảnh bách hại gay gắt hơn nên mãi đến năm 1850 mới chính thức tái lập lại được hàng giáo phẩm. Hiện nay, số tín hữu Công Giáo tại Anh Quốc được khoảng 5 triệu, với 1 giáo phận tuyên úy quân đội và 22 địa phận thuộc 5 giáo tỉnh: Westminster, Birmingham, Liverpool, Cardiff và Southwark. Tưởng cũng nên lưu ý là dù đã có sắc lệnh chính thức tha đạo vào năm 1829, không có nghĩa là Giáo Hội Công Giáo được tự do bình đẳng vì Anh Giáo vẫn là quốc giáo. Một ví dụ điển hình là vào năm 1951, chỉ vài tháng sau khi Ðức Giáo Hoàng Piô IX ban Tông Thư Universalis Ecclesiae tái lập hàng giáo phẩm Công Giáo tại Anh Quốc & Wales thì Thủ Tướng Anh John Russell cũng ký một sắc lệnh cấm những địa phận Công Giáo không được lấy trùng tên với các địa phận Anh Giáo, nhưng cho phép các địa phận Anh Giáo được lập thêm sau này vẫn được quyền lấy tên trùng với các địa phận Công Giáo nếu muốn. Do đó không có một địa phận nào của Công Giáo trùng tên với địa phận của Anh Giáo cả, nhưng có đến 3 địa phận Anh Giáo trùng tên với các địa phận Công Giáo là Liverpool, Birmingham, và Portsmouth. Ngoài ra cũng còn có các luật khác như cấm người Công Giáo không được kết hôn với những người trong hoàng tộc, cấm người Công Giáo không được làm làm Thủ Tướng, cấm linh mục Công Giáo, dù đã hồi tục, cũng không được ứng cử vào Quốc Hội, v.v.... Ngày nay, với chiều hướng đại kết, Giáo Hội Công Giáo đã không đá động gì đến các khoản cấm đoán vô lý cũng như những công kích cực đoan của một số thành phần trong Anh Giáo, mà luôn mong muốn đối thoại để hòa giải và cầu nguyện cho việc hiệp nhất giữa các Kitô hữu. Hơn nữa, với trào lưu tục hóa hiện nay, tuy là quốc giáo nhưng vì số người đi nhà thờ chỉ khoảng 1%, nên có lẽ Anh Giáo sẽ phải tự động thay đổi những chính sách lỗi thời này. 

Hoàn cảnh của Giáo Hội Công Giáo tại Tô Cách Lan vào thời cải cách cũng gặp nhiều khó khăn. Vua Jacôbê V của Tô cách Lan đã can đảm đưa đội quân nhỏ bé của mình chống lại đội quân Anh Giáo của vua Henry VIII. Tuy vua Giacôbê V thất bại và chết nhưng hoàng hậu đã kịp thời phong vương cho con gái mới sinh được mấy ngày, lấy hiệu là Nữ Hoàng Mary Tô Cách Lan, và đưa con sang tỵ nạn ở Pháp. Sau khoảng 13 năm khi tình hình chính trị đã tạm ổn thì Nữ Hoàng Mary về nước. Tuy nhiên do đa số những người trong chính quyền Tô Cách Lan bấy giờ đã ngả theo phe Thệ Phản nên chỉ ít năm sau Nữ Hoàng Mary bị buộc phải thoái vị và trốn sang Anh Quốc. Nữ Hoàng Anh Giáo lúc bấy giờ là Elizabeth I đã giam giữ và cuối cùng giết chết Nữ Hoàng Mary của Tô Cách Lan. Cuộc bách hại đạo Công Giáo tại Tô Cách Lan cũng có lúc tạm lắng dịu, nhưng cũng có lúc gắt gao khiến không còn một linh mục nào trú ẩn được cả. Ðã có lúc những linh mục và giám mục hầm trú ở Anh Quốc đã phải tạm quyền trông coi việc mục vụ cho những tín hữu Công Giáo trung thành trên đất Tô Cách Lan. Cuối cùng, với sắc lệnh tha đạo vào năm 1829, con số những người Công Giáo ở Tô Cách Lan đã gia tăng. Ngày 4 tháng 3 năm 1878, Ðức Giáo Hoàng Lêo XIII đã tái lập lại hàng giáo phẩm Công Giáo Tô Cách Lan. Ngày nay, dù còn bị nhiều hạn chế tương tự như ở Anh Quốc, nhưng Giáo Hội Công Giáo ở Tô Cách Lan đã vươn lên với số tín hữu khoảng gần một triệu trong 6 giáo phận bản xứ và một giáo phận tuyên úy cho quân đội. 

Nhìn chung, tình hình của Giáo Hội Công Giáo với ba Hội Ðồng Giám Mục tại quần đảo Anh Cát Lợi là một thực tế lịch sử. Giáo Hội Công Giáo luôn tôn trọng những gì thuộc truyền thống lâu đời của các Gìáo Hội địa phương. Tuy là ba Hội Ðồng Giám Mục độc lập, nhưng do cùng chịu chung một luật đời do thể chế chính trị áp đặt, nên người Công Giáo trên quần đảo Anh Cát Lợi  đều có chung một hoàn cảnh. Cũng may mắn là Anh Ngữ hiện nay là ngôn ngữ chính cho toàn thể quần đảo, nên ba Hội Ðồng Giám Mục luôn làm việc với nhau để hoạch định những gì có thể làm chung cho các tín hữu của mình. Dù còn nhiều khó khăn, nhưng là những chi thể của nhiệm thể Chúa Kitô trong Giáo Hội Công Giáo hoàn vũ, Giáo Hội Công Giáo tại quần đảo Anh Cát Lợi luôn vun trồng Ðức Tin tông truyền, và sẵn sàng mở rộng vòng tay trong phong trào đại kết với các giáo phái phi-Công-Giáo để lời nguyện xin của Thầy Chí Thánh ngày xưa 'Xin cho chúng nên một' có ngày thành hiện thực.