SƠ LƯỢC ÐẠI HỌC VÀ TRƯỜNG ÐẠI HỌC OXFORD

Tu sĩ Trần thanh Hải OSB

 

 

ÐẠI HỌC

Phải nói rằng trường Academy bên Athens, tại nước Hy Lạp, đã là một trường học đầu tiên và lâu dài nhất hiện nay trên thế giới. Trường Academy đã được nhà triết học Plato thành lập từ thế kỷ thứ bốn trước Chúa Giáng Sinh và đã được duy trì cho đến khi Hoàng đế Justin đóng cửa, khoảng thế kỷ thứ sáu. Lý tưởng của trường Hy Lạp Academy là lòng khao khát đi tìm triết lý sự khôn ngoan, cái họ không thể nào toả nguyện được. Qua triết lý họ tin rằng họ sẽ tìm được hạnh phúc và sự sống luân lý của con người. Nhưng lý tưởng của người Kitô Giáo lại khác. Thánh Phaolô viết: ‘Trong khi người Do Thái đòi hỏi những điềm thiêng dấu lạ, còn người Hy Lạp tìm kiếm lẽ khôn ngoan, thì chúng tôi lại rao giảng một Ðấng Ki Tô bị đóng đinh.’ Ðích của triết lý gì? Là đấng Khôn ngoan. Ðối với người Kitô Giáo họ không cần phải triết lý làm gì bởi họ đã sung mãn qua Chúa Kitô, đấng Khôn ngoan đích thực. Cho nên theo lời Thánh Phaolô người Kitô Giáo chỉ cần rao giảng Ðức Kitô vì qua đức Kitô vị không ngoan tột đỉnh của mọi sự khôn ngoan, con người sẽ tìm thấy sự sống đích thực, hạnh phúc bất diệt, sự cứu rỗi và đời sống vĩnh cữu. Sự rao giảng này bắt đầu bằng sự truyền giáo và sau đó được phối hợp vào với giáo dục xã hội tại các tu viện. Cho nên sự đóng cửa của trường Academy mở đường cho các trường tôn giáo tại các tu viện làm thành một sự liên tục của nền giáo dục. 

Suốt thời gian đầu Trung Cổ nền giáo dục hoàn toàn trong phạm vi Giáo Hội. Các trường học tại các tu viện và các giáo viên là những tu sĩ linh mục. Hầu hết các học sinh và sinh viên đều đi học với mục đính phục vụ Giáo hội. Môn học phổ thông lúc đó gồm bảy môn chính mà tất cả mọi học sinh phải học trước khi học thần học hay triết học. Bảy môn đó là Văn phạm (grammar), Hùng biện (rhetoric), biện chứng(logic), toán số học(arithmetic), Hình học (geometry), Thiên văn (astronomy) và âm nhạc (music). Thêm vào đó, Công giáo ra đời dưới đế quốc La mã và giáo triều lại tại Roma cho nên ngôn ngữ Latinh được dùng trong phụng vụ và trong giáo dục. Bởi vậy sự lưu chuyển của học sinh và tu sĩ trong giáo hội không bị trở ngại do ngôn ngữ. Ðiều này nói lên nền giáo dục trong Giáo Hội rất thống nhất.

Nhưng thời thế càng ngày càng thay đổi, đến thế kỷ  thứ 12 dân số đông đúc hơn số học sinh và sinh viên không còn nhất thiết phải học ra để phục vụ giáo hội. Cách giáo dục cũng có chiều hướng phân ranh giới giữa học đạo và học đời. Cũng trong giai đoạn này giáo dục tại các trường dòng có phần xa xút do tư tưởng bảo thủ và không cập nhật hoá. Từ đây nảy sinh lối giáo dục tư. Một số giáo sư nhận dạy riêng và họ dần dần lập những học đường tư. Ðầu thế kỷ thứ 13 đại học Pari đầu tiên ở Châu âu ra đời, sau đó đại học Bologna ở Ý và Oxford tại Anh Quốc. Những thập niên tiếp theo sau các trường đại học tiếp nhau  xuất hiện trên toàn lãnh thổ Châu âu.

ÐẠI HỌC OXFORD

Ở Anh Quốc, trường Oxford là trường đại học đầu tiên được chính thức thành lập vào thế kỷ 13, sau đó đến đại học Cambridge. Ðại học Oxford thành lập mục đích chính là giáo dục học giả thành tu sĩ linh mục. Nên nhớ nước Anh lúc này là một nước Công giáo. Các môn học vẫn là bảy môn nhân văn. Phải mất bảy năm mới học xong bảy môn nhân văn. Sau đó mất ba năm nữa học ba môn triết: luân lý, trừu tưởng và thiên nhiên học; và 2 môn ngôn ngữ: Hipri và Hy Lạp.  Học xong ba năm này thì được cử nhân. Sau đó học giả có thể chọn ngành học chuyên môn.  Có thể học Luật hay Y học, nhưng trổi hơn hết là học Thần học. Tính cả thảy phải hết 13 năm mới học xong tất cả. Ðó là lối giáo dục thời Trung Cổ tại Oxford, cũng như tại Âu châu. Cho nên sinh viên ở thời Trung Cổ hầu hết vẫn là các tu sĩ và một số khác là thuộc con nhà vua chúa giàu có và uy quyền.  

Sự hình thành của Oxford không phải không có trở ngại trong thời gian đầu. Sinh viên sớm sinh sự với các người dân làng qua các vụ cãi lộn đánh nhau. Sự bất hoà này bùng nổ thành một bi thảm vào ngày lễ mừng Thánh Scholastica mồng 10 tháng Hai năm 1354. Trận đánh đã gây ra cái chết bi thảm của 62 sinh viên và số còn lại bị đuổi ra khỏi thành phố. Một ngày lễ đã trở thành một ngày đổ máu trong lịch sử đại học Oxford.  

Khi Oxford vừa thành lập những sinh viên đến học họ thường cư trú tại các nhà trọ hay với dân làng, hoặc một nhóm mướn nhà ở chung. Tuy họ cư trú rãi rác khắp thành phố nhưng họ đều là thành viên của đại học Oxford. Lúc này chưa có các trường đại học nội trú.  

Hệ thống các trường đại học nội trú Oxford có thể nói là do sự xuất hiện của các tu sĩ dòng Ðaminh. Cũng trong thế kỷ 13 dòng Ðaminh chuyên môn về giáo dục đã đặt chân đến đất Oxford để trao dồi khiến thức qua học hành và huấn giáo. Họ cho các sinh viên cư trú chung, nhưng sau một thời gian sự cư trú chung không thể tồn tại được bởi hai lối sống quá khác biệt. Cho nên các trường nội trú đời được thành lập riêng, giống như bên trường Pari. Ðó là sự hình thành các trường đại học nội trú. Ðiều này cũng nói lên Oxford càng ngày càng phát triển.  

Bên cạnh sự bành trướng của các trường đại học Oxford chung quanh cái thành phố nho nhỏ nằm cạnh sông Thames, đại học Oxford ngay từ ban đầu đã cống hiến cho cho xã hội Anh Quốc biết nhiêu nhân tài như Parley, John Lock vân vân. Oxford không chỉ nổi tiếng về văn hoá lỗi lạc mà còn mang nặng tính chất sâu đậm về tôn giáo. Chính nơi đây vào thời Cải Cánh, ba giáo sĩ lừng danh Anh giáo là tổng giám mục Cranmer và hai giám muc Latimer và Ridley đã bị thiêu sống trên cọc tại Oxford dưới bàn tay nữ hoàng Mary thứ Nhất. Câu chuyện này vẫn truyền kể lại cho du khách ngày qua ngày cho tới hôm nay.  

Oxford còn là nơi nảy sinh ra đạo Giám lý (Methodist), người sáng lập là hai anh em John và Charles Wesley.  Cũng chính nơi đây đã tảo ra phong trào gọi là Phong Trào Oxford. Phong trào Oxford là một phong trào ở thế kỷ 19 của một nhóm người Anh Giáo tại Oxford muốn  phục hồi lại những giáo lý truyền thống Công giáo trong giáo hội Anh giáo. Phong trào gồm ông  John Keble, John Henry Newman, và Edward Pusey. Họ hoạt động bằng cách truyền đơn. Phong trào nhấn mạnh về đặc tính của bí tích và tông đồ giáo hội, về linh mục, về thăng tiến phụng vụ của truyền thống Công giáo,  phục vụ người bần cùng, và kuyến kích thành lập càc dòng tu nam nữ Anh giáo - mở đường cho các dòng tu Anh giáo ra đời trên toàn lãnh thổ. Phong trào sinh hoạt khoảng 10 năm và giải tán khi Newman đã quyết định rời Anh giáo và gia nhập đạo Công giáo năm 1845.  Ngoài ra còn có nhiều nhóm tôn giáo khác cũng đã và đang hoạt động tại đây. Tóm lại, văn hóa tại đây bay bướm bao nhiêu thì tôn giáo cũng thăng tiến con người sống đạo bấy nhiêu! 

 

ÐẠI HỌC OXFORD HÔM NAY

Hiện nay đại học Oxford có cả thảy 45 trường độc lập. Có trường lớn như Trinity College, Christ Church, Merton College và có trường nhỏ thì gọi là Hall chảng hạn như St Edmund’s Hall vân vân. Trong các trường đời này vẫn còn các trường của các nhà tu như trường của các tu sĩ Biển Ðức: St Benet’s Hall, trường của các tu sĩ Ðaminh: Blackfriars Hall, trường của các tu sĩ Phaxico: Greyfriar, trường của các tu sĩ dòng Tên: Campion Hall.  

Các sinh viên cư trú riêng tại mỗi trường của họ và học riêng nhưng có một vài đều họ làm chung. Tất cả sinh viên chưa tốt nghiệp đều đi thi tại Trường Thi (Examination Schools) và nhận bằng tốt nghiệp tại nhà hát Sheldonian.  

Năm học tại đây có ba kỳ mỗi kỳ học chỉ có 8 tuần không hơn không kém. Kỳ một gọi là kỳ Michaelmas; kỳ hai gọi là Hilary; kỳ ba gọi là Trinity. Ngoài kỳ học chính thức ra các sinh viên vẫn có thể ở lại Oxford để tự học.   

Các thuyết trình tại Oxford còn có lợi ích cho sinh viên rất đáng kể. Tất cả các bài thuyết trình được thông báo cho tất cả các sinh viên, do đó sinh viên nào cần cù ham học sẽ tiếp thu được nhiều môn trong mọi lĩnh vực.  

Ðại học Oxford còn có thư viện nổi tiếng Boleian. Ðây là thư viện nhận được tất cả các sách xuất bản tại Anh Quốc. Không giống như thư viện Cambridge, thư viện Boleian không cho mượn sách. Sách chỉ được đọc tại thư viện chảng hạn như tại Radcliffe Camera, bởi thế không có tình trạng không thấy sách mình muốn, dĩ nhiên là các sách xuất bản tại Anh. Tuy vậy ngoài thư viện chính Boleian này ra Oxford còn có các thư viện nhỏ tại mỗi khoa học, tại các thư viện nhỏ này sách có thể mượn về. 

Sinh viên Oxford đến từ năm châu, từ Việt nam cũng có. Các sinh viên có bằng tốt nghiệp rồi muốn học thêm một bằng nữa thì dễ xin vào hơn bởi vì họ thích những sinh viên có ngòi bút cứng rắn và bay bướm.

Cuộc sống tại đây nhộn nhịp và lý thú. Ngoài học hành ra các sinh viên có thể tham gia các nhóm sinh hoạt khác nhau như thể thao đủ loại, hay tham gia các nhóm tôn giáo hoạt động tông đồ hay thăng tiến tôn giáo mình qua các cuộc đàm luận.

Ðường phố Oxford luôn luôn tấp nập những khuôn mặt đầy sức sống của thanh niên nam nữ. Thêm vào đó những toà nhà cổ có nhiều chóp nhọn làm cho cả thành phố khác hẳn. Bởi thế Oxford có biệt danh là thành phố mơ mộng. Vào những ngày Chúa nhật cả thành phố oanh ỏi với những tiếng chuông chiều ngân vang đây đó khiến cho bầu không khí Oxford vui nhộn, tưởng nhớ lại một thời xa xưa khi mọi người già trẻ đã lần theo tiếng chuông tiến tới thánh đường để quỳ gối cảm tạ ngày hồng ân của Chúa. Những tiếng chuông chiều quen thuộc này tuy không còn có sức thu hút bao nhiêu nhưng cũng nói lên rằng Oxford là một thành phố Thiên Chúa Giáo.

Hôm nay Oxford vẫn là nơi đào tạo các tu sĩ nam nữ và linh mục. Các sinh viên tại đây thường các giám mục Anh giáo nhắc nhở rằng: học hành không chỉ để giúp tìm nghề nghiệp nhưng qua học hành chúng ta thấy được ý nghĩa và chân giá trị của cuộc sống con người. Học hành là đi tìm sự khôn ngoan. Nhưng chúng ta đừng để cho sự khôn ngoan của ta đạt được chỉ phục vụ cho chính bạn thân nhưng cần dùng sự khôn ngoan này để phục vụ anh em bạn bè, hàng xóm và xã hội. Qua phục vụ chúng ta có thể tự hào với Ðấng Khôn ngoan, Ðức Kitô, người hằng truyền cho chúng ta: ‘anh em hãy yêu mến nhau như Thầy yêu thương anh em.’    

Oxford, Trinity 2001

 
Đại Học Oxford