SƠ
LƯỢC ÐẠI HỌC VÀ TRƯỜNG ÐẠI HỌC OXFORDTu
sĩ Trần thanh Hải OSB
ÐẠI
HỌC Phải nói rằng trường Academy bên Athens, tại nước Hy
Lạp, đã là một trường học đầu tiên và lâu dài nhất
hiện nay trên thế giới. Trường Academy đã được nhà
triết học Plato thành lập từ thế kỷ thứ bốn trước Chúa
Giáng Sinh và đã được duy trì cho đến khi Hoàng đế Justin
đóng cửa, khoảng thế kỷ thứ sáu. Lý tưởng của trường
Hy Lạp Academy là lòng khao khát đi tìm triết lý sự khôn
ngoan, cái họ không thể nào toả nguyện được. Qua triết lý
Suốt thời gian đầu Trung Cổ
nền giáo dục hoàn toàn trong phạm vi Giáo Hội. Các trường
học tại các tu viện và các giáo viên là những tu sĩ linh
mục. Hầu hết các học sinh và sinh viên đều đi học với
mục đính phục vụ Giáo hội. Môn học phổ thông lúc đó
gồm bảy môn chính mà tất cả mọi học sinh phải học trước
khi học thần học hay triết học. Bảy môn đó là Văn phạm
(grammar), Hùng biện (rhetoric), biện chứng(logic), toán số
học(arithmetic), Hình học (geometry), Thiên văn (astronomy) và âm
nhạc (music). Thêm vào đó, Công giáo ra đời dưới đế
quốc La mã và giáo triều lại tại Roma cho nên ngôn ngữ
Latinh được dùng trong phụng vụ và trong giáo dục. Bởi
vậy sự lưu chuyển của học sinh và tu sĩ trong giáo hội không
bị trở ngại do ngôn ngữ. Ðiều này nói lên nền giáo dục
trong Giáo Hội rất thống nhất. Nhưng thời thế càng ngày càng
thay đổi, đến thế kỷ thứ
12 dân số đông đúc hơn số học sinh và sinh viên không còn
nhất thiết phải học ra để phục vụ giáo hội. Cách giáo
dục cũng có chiều hướng phân ranh giới giữa học đạo và
học đời. Cũng trong giai đoạn này giáo dục tại các trường
dòng có phần xa xút do tư tưởng bảo thủ và không cập
nhật hoá. Từ đây nảy sinh lối giáo dục tư. Một số giáo
sư nhận dạy riêng và họ dần dần lập những học đường
tư. Ðầu thế kỷ thứ 13 đại học Pari đầu tiên ở Châu
âu ra đời, sau đó đại học Bologna ở Ý và Oxford tại Anh
Quốc. Những thập niên tiếp theo sau các trường đại học
tiếp nhau xuất hiện trên
toàn lãnh thổ Châu âu. ÐẠI
HỌC OXFORD Ở Anh Quốc, trường Oxford là trường
đại học đầu tiên được chính thức thành lập vào thế
kỷ 13, sau đó đến đại học Cambridge. Ðại học Oxford thành
lập mục đích chính là giáo dục học giả thành tu sĩ linh
mục. Nên nhớ nước Anh lúc này là một nước Công giáo. Các
môn học vẫn là bảy môn nhân văn. Phải mất bảy năm mới
học xong bảy môn nhân văn. Sau đó mất ba năm nữa học ba môn
triết: luân lý, trừu tưởng và thiên nhiên học; và 2 môn ngôn
ngữ: Hipri và Hy Lạp. Học
xong ba năm này thì được cử nhân. Sau đó học giả có thể
chọn ngành học chuyên môn. Có
thể học Luật hay Y học, nhưng trổi hơn hết là học Thần
học. Tính cả thảy phải hết 13 năm mới học xong tất cả.
Ðó là lối giáo dục thời Trung Cổ tại Oxford, cũng như
tại Âu châu. Cho nên sinh viên ở thời Trung Cổ hầu hết
vẫn là các tu sĩ và một số khác là thuộc con nhà vua chúa
giàu có và uy quyền. Sự hình thành của Oxford không
phải không có trở ngại trong thời gian đầu. Khi Oxford vừa thành lập những
sinh viên đến học họ thường cư trú tại các nhà trọ hay
với dân làng, hoặc một nhóm mướn nhà ở chung. Tuy họ cư
trú rãi rác khắp thành phố nhưng họ đều là thành viên
của đại học Oxford. Lúc này chưa có các trường đại học
nội trú. Hệ
thống các trường đại học nội trú Oxford có thể nói là
do sự xuất hiện của các tu sĩ dòng Ðaminh. Cũng trong thế
kỷ 13 dòng Ðaminh chuyên môn về giáo dục đã đặt chân đến
đất Oxford để trao dồi khiến thức qua học hành và huấn
giáo. Họ cho các sinh viên cư trú chung, nhưng sau một thời
gian sự cư trú chung không thể tồn tại được bởi hai lối
sống quá khác biệt. Cho nên các trường nội trú đời được
thành lập riêng, giống như bên trường Pari. Ðó là sự hình
thành các trường đại học nội trú. Ðiều này cũng nói lên
Oxford càng ngày càng phát triển. Bên cạnh sự bành trướng của các
trường đại học Oxford chung quanh cái thành phố nho nhỏ
nằm cạnh sông Thames, đại học Oxford ngay từ ban đầu đã
cống hiến cho cho xã hội Anh Quốc biết nhiêu nhân tài như
Parley, John Lock vân vân. Oxford không chỉ nổi tiếng về văn
hoá lỗi lạc mà còn mang nặng tính chất sâu đậm về tôn
giáo. Chính nơi đây vào thời Cải Cánh, ba giáo sĩ lừng danh
Anh giáo là tổng giám mục Cranmer và hai giám muc Latimer và
Ridley đã bị thiêu sống trên cọc tại Oxford dưới bàn tay
nữ hoàng Mary thứ Nhất. Câu chuyện này vẫn truyền kể
lại cho du khách ngày qua ngày cho tới hôm nay. Oxford còn là nơi nảy sinh ra đạo
Giám lý (Methodist), người sáng lập là hai anh em John và
Charles Wesley. Cũng chính
nơi đây đã tảo ra phong trào gọi là Phong Trào Oxford. Phong
trào Oxford là một phong trào ở thế kỷ 19 của một nhóm người
Anh Giáo tại Oxford muốn phục
hồi lại những giáo lý truyền thống Công giáo trong giáo
hội Anh giáo. Phong trào gồm ông
John Keble, John Henry Newman, và Edward Pusey. Họ hoạt động
bằng cách truyền đơn. Phong trào nhấn mạnh về đặc tính
của bí tích và tông đồ giáo hội, về linh mục, về thăng
tiến phụng vụ của truyền thống Công giáo, phục vụ người bần cùng, và kuyến kích thành
lập càc dòng tu nam nữ Anh giáo - mở đường cho các dòng tu
Anh giáo ra đời trên toàn lãnh thổ. Phong trào sinh hoạt
khoảng 10 năm và giải tán khi Newman đã quyết định rời Anh
giáo và gia nhập đạo Công giáo năm 1845.
Ngoài ra còn có nhiều nhóm tôn giáo khác cũng đã và đang
hoạt động tại đây. Tóm lại, văn hóa tại đây bay bướm
bao nhiêu thì tôn giáo cũng thăng tiến con người sống đạo
bấy nhiêu! ÐẠI
HỌC OXFORD HÔM NAY Hiện nay đại học Oxford có cả
thảy 45 trường độc lập. Có trường lớn như Trinity
College, Christ Church, Merton College và có trường nhỏ thì gọi
là Hall chảng hạn như St Edmund’s Hall vân vân. Trong các trường
đời này vẫn còn các trường của các nhà tu như trường
của các tu sĩ Biển Ðức: St Benet’s Hall, trường của các
tu sĩ Ðaminh: Blackfriars Hall, trường của các tu sĩ Phaxico:
Greyfriar, trường của các tu sĩ dòng Tên: Campion Hall. Các sinh viên cư trú riêng tại
mỗi trường của họ và học riêng nhưng có một vài đều
họ làm chung. Tất cả sinh viên chưa tốt nghiệp đều đi thi
tại Trường Thi (Examination Schools) và nhận bằng tốt nghiệp
tại nhà hát Sheldonian. Năm học tại đây có ba kỳ mỗi
kỳ học chỉ có 8 tuần không hơn không kém. Kỳ một gọi là
kỳ Michaelmas; kỳ hai gọi là Hilary; kỳ ba gọi là Trinity. Ngoài
kỳ học chính thức ra các sinh viên vẫn có thể ở lại
Oxford để tự học. Các thuyết trình tại Oxford còn có
lợi ích cho sinh viên rất đáng kể. Tất cả các bài thuyết
trình được thông báo cho tất cả các sinh viên, do đó sinh
viên nào cần cù ham học sẽ tiếp thu được nhiều môn trong
mọi lĩnh vực. Ðại học Oxford còn có thư viện
nổi tiếng Boleian. Ðây là thư viện nhận được tất cả các
sách xuất bản tại Anh Quốc. Không giống như thư viện
Cambridge, thư viện Boleian không cho mượn sách. Sách chỉ được
đọc tại thư viện chảng hạn như tại Radcliffe Camera, bởi
thế không có tình trạng không thấy sách mình muốn, dĩ nhiên
là các sách xuất bản tại Anh. Tuy vậy ngoài thư viện chính
Boleian này ra Oxford còn có các thư viện nhỏ tại mỗi khoa
học, tại các thư viện nhỏ này sách có thể mượn về. Sinh viên Oxford đến từ năm châu,
từ Việt nam cũng có. Các sinh viên có bằng tốt nghiệp rồi
muốn học thêm một bằng nữa thì dễ xin vào hơn bởi vì
họ thích những sinh viên có ngòi bút cứng rắn và bay bướm.
Cuộc sống tại đây nhộn nhịp
và lý thú. Ngoài học hành ra các sinh viên có thể tham gia các
nhóm sinh hoạt khác nhau như thể thao đủ loại, hay tham gia các
nhóm tôn giáo hoạt động tông đồ hay thăng tiến tôn giáo mình
qua các cuộc đàm luận. Ðường phố Oxford luôn luôn tấp
nập những khuôn mặt đầy sức sống của thanh niên nam nữ.
Thêm vào đó những toà nhà cổ có nhiều chóp nhọn làm cho
cả thành phố khác hẳn. Bởi thế Oxford có biệt danh là thành
phố mơ mộng. Vào những ngày Chúa nhật cả thành phố oanh
ỏi với những tiếng chuông chiều ngân vang đây đó khiến
cho bầu không khí Oxford vui nhộn, tưởng nhớ lại một thời
xa xưa khi mọi người già trẻ đã lần theo tiếng chuông
tiến tới thánh đường để quỳ gối cảm tạ ngày hồng ân
của Chúa. Những tiếng chuông chiều quen thuộc này tuy không
còn có sức thu hút bao nhiêu nhưng cũng nói lên rằng Oxford là
một thành phố Thiên Chúa Giáo. Hôm nay Oxford vẫn là nơi đào
tạo các tu sĩ nam nữ và linh mục. Các sinh viên tại đây thường
các giám mục Anh giáo nhắc nhở rằng: học hành không chỉ
để giúp tìm nghề nghiệp nhưng qua học hành chúng ta thấy
được ý nghĩa và chân giá trị của cuộc sống con người.
Học hành là đi tìm sự khôn ngoan. Nhưng chúng ta đừng để
cho sự khôn ngoan của ta đạt được chỉ phục vụ cho chính
bạn thân nhưng cần dùng sự khôn ngoan này để phục vụ anh
em bạn bè, hàng xóm và xã hội. Qua phục vụ chúng ta có
thể tự hào với Ðấng Khôn ngoan, Ðức Kitô, người hằng
truyền cho chúng ta: ‘anh em hãy yêu mến nhau như Thầy yêu thương
anh em.’ Oxford,
Trinity 2001
|
||